TextBody
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tiếng Nga
Tiếng Anh

Tiếng Việt

Tiếng Việt Tiếng Việt
Tiếng Nga Tiếng Nga
Tiếng Anh Tiếng Anh

Ghi nhận bổ sung loài Gõ đỏ quý hiếm tại rừng phòng hộ Ninh Hòa – Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

30/09/2026

Trong đợt khảo sát hệ sinh thái rừng gần đây tại rừng phòng hộ Ninh Hòa -Vạn Ninh (tỉnh Khánh Hòa), các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Trường Đại học Đà Lạt đã ghi nhận sự xuất hiện của Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) - một trong những loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị cao và đang được quan tâm về bảo tồn ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu.

Đây không phải là lần đầu tiên loài Gõ đỏ được ghi nhận tại khu vực Đèo Cả - Vọng Phu. Trước đó, nhóm nghiên cứu đã phát hiện loài này ở sườn phía bắc, thuộc rừng phòng hộ Sông Hinh. Ghi nhận mới ở sườn phía nam có ý nghĩa quan trọng, cho thấy loài này hiện diện ở cả hai sườn của khu vực Đèo Cả - Vọng Phu, qua đó bổ sung dữ liệu về phạm vi phân bố của loài trong cảnh quan rừng Nam Trung Bộ.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở sự hiện diện của loài, mà còn ở tình trạng sinh trưởng của các cá thể được ghi nhận. Kết quả khảo sát thực địa cho thấy Gõ đỏ tại đây không chỉ gồm những cá thể phân bố rải rác, mà còn có những cây sinh trưởng tốt, trong đó có cây tái sinh và cá thể mang quả. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy sinh cảnh rừng tại khu vực vẫn còn những điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, tái sinh và sinh sản tự nhiên của loài.

Về đặc điểm sinh học và sinh thái, Gõ đỏ có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới có mùa khô kéo dài. Lá dày góp phần hạn chế mất nước; hoa nhỏ, có mùi thơm nhẹ, có thể thu hút côn trùng thụ phấn; quả lớn, hạt có áo đỏ có thể hỗ trợ quá trình phát tán nhờ động vật. Trong tự nhiên, loài thường xuất hiện ở các kiểu rừng khô và rừng nửa rụng lá.

Tại Ninh Hòa - Vạn Ninh, Gõ đỏ được ghi nhận ở độ cao thấp, thuộc sinh cảnh chân núi thấp và chịu ảnh hưởng của điều kiện ven biển. Đây là dạng môi trường cần được quan tâm trong nghiên cứu sinh thái của loài, qua đó góp phần mở rộng hiểu biết về biên độ sinh thái và khả năng thích nghi của Gõ đỏ.

Một đặc điểm đáng lưu ý là Gõ đỏ là loài ưa sáng, tái sinh chủ yếu bằng hạt và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ánh sáng, do đó khó phát triển dưới tán rừng dày. Vì vậy, sự xuất hiện của các cá thể tái sinh trong tự nhiên, đặc biệt là những cá thể dấu hiệu sinh trưởng tốt, là tín hiệu tích cực về điều kiện sinh cảnh.

Trên phạm vi rộng hơn, Gõ đỏ phân bố rải rác ở Đông Nam Á, nhưng các quần thể thường thưa và không liên tục. Tại Việt Nam, Gõ đỏ chủ yếu gặp ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; các ghi nhận ở khu vực ven biển và gần biển Nam Trung Bộ còn hạn chế. Những dẫn liệu mới tại Ninh Hòa - Vạn Ninh vì thế có giá trị bổ sung cho nghiên cứu phân bố, sinh thái và bảo tồn loài.

Theo IUCN, Gõ đỏ hiện được xếp vào nhóm Nguy cấp (EN) trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, loài cũng nằm trong danh sách các loài nguy cấp cần được bảo vệ nghiêm ngặt (Sách Đỏ Việt Nam 2024) và thuộc nhóm IIA theo Thông tư 27/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Sự suy giảm của loài chủ yếu bắt nguồn từ khai thác gỗ kéo dài, mất sinh cảnh do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cháy rừng, đặc biệt trong các hệ sinh thái rừng khô; đồng thời, khả năng tái sinh tự nhiên cũng có thể bị hạn chế. Phân bố thưa và rời rạc khiến các quần thể của loài khó phục hồi sau khi bị suy giảm.

Trong bối cảnh đó, điểm nổi bật của ghi nhận tại Rừng phòng hộ Ninh Hòa - Vạn Ninh nằm ở chỗ loài không chỉ hiện diện mà còn có dấu hiệu tái sinh tự nhiên, đồng thời ghi nhận được cá thể mang quả. Những quan sát này cho thấy khu vực vẫn còn các điều kiện thuận lợi cho một số giai đoạn trong vòng đời của loài, từ sinh trưởng đến tái sinh và sinh sản.

Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ khả năng duy trì quần thể, cần có thêm các nghiên cứu về quy mô, cấu trúc quần thể, mật độ cây tái sinh, khả năng phát tán và tỷ lệ sống của cây non. Dù vậy, ghi nhận hiện nay vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn tại chỗ (in situ), bởi đã xác định được một khu vực còn lưu giữ những giá trị di truyền và sinh thái của Gõ đỏ.

Đáng chú ý, sự xuất hiện của Gõ đỏ trong cảnh quan quanh hồ Đá Bàn còn đi kèm với một số loài cây gỗ quý khác như Cẩm lai bông (Dalbergia oliveri) và Gụ mật (Sindora siamensis), tạo nên một tổ hợp loài có giá trị bảo tồn cao trong phạm vi diện tích không lớn. Sự đồng tồn tại này không chỉ phản ánh đặc điểm của kiểu rừng hơi khô nửa rụng lá ven biển, mà còn gợi mở về khả năng tồn tại của những “vi điểm đa dạng sinh học” (biodiversity hotspots), có ý nghĩa đối với  nghiên cứu sinh thái cảnh quan và bảo tồn đa dạng sinh học.

Nhìn rộng ra, những ghi nhận như tại Ninh Hòa - Vạn Ninh không chỉ bổ sung dữ liệu về phân bố loài, mà còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý và bảo tồn rừng. Trong bối cảnh rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, việc xác định và bảo vệ những khu vực còn duy trì được các quần thể loài quý hiếm, đồng thời có dấu hiệu tái sinh tự nhiên, là hết sức cần thiết.

Việc ghi nhận Gõ đỏ ở nhiều vị trí trong không gian Đèo Cả - Vọng Phu không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn gợi mở một thông điệp tích cực: nếu được bảo vệ và quản lý hợp lý, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam vẫn có khả năng duy trì và phục hồi những giá trị tự nhiên quý báu, trong đó có những giá trị mang ý nghĩa bảo tồn ở quy mô toàn cầu.

Hình ảnh ghi nhận loài Gõ đỏ tại thực địa:

Cảnh quan rừng phục hồi chân núi (ven hồ Đá Bàn) - nơi ghi nhận loài Gõ đỏ
 (Ảnh: Nguyễn Đăng Hội, 2026).

Nhóm nghiên cứu tại rừng thứ sinh hồ Đá Bàn
(Ảnh: Trần Thị Nhàn, 2026).

 Gõ đỏ trong cấu trúc tầng tán rừng tại khu vực nghiên cứu
(Ảnh: Nguyễn Đăng Hội, 2026).

Cành mang trái già của một cá thể Gõ đỏ tại khu rừng ven hồ Đá Bàn 
(Ảnh: Nguyễn Đăng Hội, 2026).

Tin bài: Trần Thị Nhàn, Nguyễn Đăng Hội (Viện Sinh thái nhiệt đới)