Khoa học sinh thái trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
21/05/2026Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học (22/5/2026) được Liên Hợp Quốc lựa chọn với chủ đề “Acting locally for global impact” (Hành động ở địa phương cho hiệu quả toàn cầu). Đây là một thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh nhân loại đang phải đối mặt đồng thời với nhiều thách thức có tính hệ thống như biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và các rủi ro sinh thái xuyên biên giới. Những vấn đề này cho thấy rằng sự ổn định của các hệ sinh thái tự nhiên không còn là câu chuyện riêng của từng quốc gia hay từng khu vực, mà đã trở thành điều kiện nền tảng bảo đảm cho phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu.
Đối với Việt Nam, chủ đề của năm nay càng có ý nghĩa trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong tiến trình đó, khoa học và công nghệ được xác định là động lực then chốt, còn phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo đảm an ninh sinh thái đang dần trở thành những định hướng chiến lược lâu dài. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của khoa học sinh thái trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay.
Trong nhiều thập niên trước đây, sinh thái học thường được xem chủ yếu như một ngành khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường sống. Tuy nhiên, trước những biến động ngày càng phức tạp của hệ thống tự nhiên và xã hội, phạm vi và vai trò của sinh thái học đã thay đổi đáng kể. Ngày nay, khoa học sinh thái không chỉ dừng lại ở việc nhận thức quy luật vận hành của tự nhiên mà còn tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những vấn đề phát triển có tính chiến lược như quản lý tài nguyên, quy hoạch lãnh thổ, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và đảm bảo an ninh môi trường.
Có thể nói rằng, trong thế kỷ XXI, nhiều thách thức lớn nhất của nhân loại đều mang bản chất sinh thái. Từ suy giảm nguồn nước, mất rừng, xâm nhập mặn cho tới dịch bệnh mới nổi, tất cả đều phản ánh sự mất cân bằng giữa hoạt động phát triển của con người với khả năng chịu tải của tự nhiên và các hệ thống sống. Chính vì vậy, sinh thái học ngày càng trở thành ngành khoa học có tính liên ngành cao, giữ vai trò kết nối giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và hoạch định chính sách phát triển.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao của thế giới. Với vị trí địa lý đặc thù, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa và cấu trúc địa hình đa dạng, nước ta sở hữu nhiều hệ sinh thái có giá trị như rừng nhiệt đới thường xanh, rừng ngập mặn, đất ngập nước nội địa, hệ sinh thái núi cao, hệ sinh thái biển, đảo. Đây không chỉ là nguồn tài nguyên sinh học quan trọng mà còn là nền tảng duy trì các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm điều hòa khí hậu, bảo vệ đất và nguồn nước, lưu trữ carbon, bảo đảm sinh kế và duy trì cân bằng môi trường.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học ở nhiều nơi đang chịu áp lực ngày càng lớn từ khai thác quá mức, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phát triển hạ tầng và biến đổi khí hậu. Thực tiễn đó cho thấy, việc bảo tồn thiên nhiên không thể chỉ được nhìn nhận như một hoạt động mang tính môi trường đơn thuần, mà cần được xem là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển quốc gia.
Trong bối cảnh kinh tế xanh và kinh tế carbon thấp đang trở thành xu thế toàn cầu, đa dạng sinh học ngày càng được xem như một dạng “vốn tự nhiên” có giá trị chiến lược lâu dài. Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy, bảo tồn thiên nhiên không đối lập với tăng trưởng kinh tế mà chính là nền tảng cho phát triển bền vững, an ninh sinh thái và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Phần Lan là một điển hình trong phát triển kinh tế lâm nghiệp hiện đại dựa trên quản lý bền vững tài nguyên rừng, gắn bảo tồn đa dạng sinh học với công nghiệp sinh học và kinh tế tuần hoàn. Trong khi đó, Campuchia những năm gần đây cũng nổi lên như một trường hợp đáng chú ý về bảo vệ môi trường tự nhiên, với các chỉ số tích cực về bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt, việc Tạp chí U.S. News & World Report xếp hạng Campuchia là quốc gia đứng đầu thế giới về môi trường tự nhiên năm 2026 cho thấy rằng, ngay cả đối với các nước đang phát triển, bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn có thể trở thành lợi thế chiến lược trong phát triển dài hạn.
Thông điệp “Hành động ở địa phương cho hiệu quả toàn cầu” cũng nhấn mạnh một thực tế rằng mọi biến động sinh thái đều có tính liên kết. Một khu rừng đầu nguồn được bảo vệ tốt không chỉ có ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương mà còn góp phần duy trì an ninh nguồn nước, giảm phát thải khí nhà kính và bảo tồn đa dạng sinh học ở quy mô rộng lớn hơn. Ngược lại, sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên ở từng khu vực riêng lẻ có thể tạo ra những tác động lan tỏa đối với môi trường và phát triển trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Điều đó cho thấy rằng các giải pháp bảo vệ thiên nhiên cần bắt đầu từ thực tiễn địa phương, từ quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, từ nâng cao nhận thức xã hội và từ việc ứng dụng khoa học công nghệ trong theo dõi, giám sát và phục hồi hệ sinh thái. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trong bối cảnh đó, đội ngũ cán bộ nghiên cứu thuộc hướng sinh thái của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã có nhiều đóng góp quan trọng trong điều tra cơ bản, nghiên cứu đa dạng sinh học và đánh giá động thái các hệ sinh thái nhiệt đới của Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ đặc điểm đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng, biển và ven biển; mô tả hàng trăm loài sinh vật mới; làm sáng tỏ các quy luật hình thành, động lực và diễn thế của cảnh quan và hệ sinh thái rừng nhiệt đới; đồng thời phân tích sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên và nhân sinh đối với các hệ sinh thái biển ven bờ và quần đảo Trường Sa. Trên cơ sở đó, nhiều giải pháp và mô hình quản lý, phục hồi hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học đã được đề xuất cho các vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ cũng như các địa phương như Đồng Nai, Lâm Đồng, Gia Lai, Đắc Lắk…, góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển lâm nghiệp với bảo tồn thiên nhiên và sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật.
Đặc biệt, với hệ thống 4 trạm quan trắc tự động về khí hậu, sinh thái và đa dạng sinh học được xây dựng tại khu vực miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, hướng sinh thái của Trung tâm đã từng bước hình thành nguồn dữ liệu định lượng và chuỗi quan trắc dài hạn phục vụ nghiên cứu động thái các hệ sinh thái rừng nhiệt đới, đánh giá năng lực hấp thụ và tích lũy carbon của từng kiểu hệ sinh thái rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc theo dõi các quá trình sinh thái, đánh giá tác động môi trường và nâng cao năng lực dự báo, giám sát biến động hệ sinh thái trong điều kiện hiện nay.
Cùng với đó, khoa học sinh thái cần tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng thể chế, hoạch định chính sách phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến quy hoạch không gian sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, phát triển kinh tế xanh, phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là yêu cầu tất yếu khi các vấn đề môi trường và sinh thái ngày càng có ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế, ổn định xã hội và chất lượng phát triển của đất nước.
Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để thực hiện chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh hơn, bền vững hơn và dựa nhiều hơn vào tri thức khoa học và đổi mới sáng tạo. Trong tiến trình đó, khoa học sinh thái cần được xem là một trong những lĩnh vực nền tảng có vai trò định hướng cho quản trị tài nguyên và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục đầu tư cho điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học, phát triển hệ thống quan trắc dài hạn, nâng cao năng lực nghiên cứu liên ngành và đào tạo nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao.
Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học năm nay là dịp để nhìn nhận rõ hơn rằng, bảo tồn thiên nhiên và phát triển đất nước không phải là hai mục tiêu tách rời. Trong điều kiện hiện nay, bảo vệ hệ sinh thái, duy trì đa dạng sinh học và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên chính là những điều kiện quan trọng để bảo đảm cho phát triển lâu dài, ổn định và bền vững của quốc gia, đồng thời giữ gìn không gian sinh tồn và phát triển cho các thế hệ tương lai.
Khoa học sinh thái, vì thế, không chỉ có vai trò nghiên cứu và nhận thức tự nhiên, mà còn góp phần định hình cách thức tổ chức không gian phát triển hài hòa giữa con người với môi trường trong quá trình phát triển đất nước. Đó cũng là trách nhiệm của cộng đồng khoa học nói chung và đội ngũ cán bộ sinh thái nói riêng trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tin bài: GS. TS Nguyễn Đăng Hội (Viện Sinh thái Nhiệt đới)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG HƯỚNG SINH THÁI TẠI TRUNG TÂM NHIỆT ĐỚI VIỆT - NGA

Lãnh đạo Bộ thông tin và Truyền thông trao tặng Trung tâm bộ tem được lấy hình ảnh nguuyên mẫu các loài chim do Trung tâm ghi nhận tại quần đảo Trường Sa (6/2022)

Đồng Tổng Giám đốc Trung tâm khảo sát địa điểm đặt trạm quan trắc sinh thái, đa dạng sinh học tại VQG Bidoup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng (6/2020)

Đồng chí Phó Tổng Giám đốc khoa học Trung tâm kiểm tra mô hình phục hồi rừng từ các loài cây bản địa tại KBTTN Kon Chư Răng, tỉnh Gia Lai (7/2025)

Nhóm thực hiện đề tài phục hồi rừng nhiệt đới khảo sát thực địa (3/2024)

Đoàn công tác đề tài E.1.2 khảo sát đa dạng sinh học tại Rừng phòng hộ Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá (4/2024)

Vận chuyển trang thiết bị và vật tư trong chuyến khuyến khảo sát sinh thái tại VQG Tà Đùng, tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng (1/2021))

Đoàn nghiên cứu sinh thái và đa dạng sinh học trên đảo Ba Mùn, VQG Bái Tử Long (5/2024)

Theo dõi động thái cây rừng trong quá trình phục hồi tại cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai (3/2025)

Huấn luyện chó bản địa Việt Nam tìm kiếm phát hiện vật liệu nổ tồn lưu sau chiến tranh (8/2024)

Phục hồi rạn san hô tại khu vưc đảo Tốc Tan, quần đảo Trường Sa (5/2022)
Bài viết liên quan













