TextBody
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tiếng Nga
Tiếng Anh

Tiếng Việt

Tiếng Việt Tiếng Việt
Tiếng Nga Tiếng Nga
Tiếng Anh Tiếng Anh

Phát hiện 9 loài nấm mới cho khoa học thuộc chi Micropsalliota (Agaricaceae) tại Việt Nam

18/07/2026

Micropsalliota là một chi nấm nhỏ thuộc họ nấm tán (Agaricaceae). Hiện nay, chi này ghi nhận khoảng 60 loài đã được mô tả hợp lệ, phần lớn phân bố ở các vùng nhiệt đới.

Các đại diện của Micropsalliota được đặc trưng bởi các đặc điểm hình thái như: thể quả kích thước nhỏ và mảnh đến trung bình, bề mặt mũ nấm nhẵn hoặc có vảy, phiến nấm rời hoặc lõm, vết in bào tử màu nâu sẫm hoặc tím, màng che một phần, bào tử thường hình elip, hình bầu dục và hình hạnh nhân với phần thành bào tử dày lên ở vùng đỉnh, liệt bào (cheilocystidia) có hình dạng và kích thước khác nhau, lớp biểu bì mũ nấm được cấu tạo bởi các sợi nấm phủ sắc tố, hiếm khi có biểu mô; lớp biểu bì mũ (pileipellis) được bao phủ bởi sắc tố chuyển từ màu ô liu sang màu xanh lục sau khi sử dụng NH4OH. Các loài thuộc chi Micropsalliota là nấm hoại sinh, có thể mọc đơn độc hoặc thành từng cụm, trên đất hoặc trên các gò mối bị phân hủy.

Nhóm nghiên cứu thuộc đề tài E-1.5 “Khu hệ nấm rừng nhiệt đới Việt Nam: đa dạng phân loại, sinh thái, cấu trúc và chức năng” của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã phát hiện và mô tả 9 loài mới cho khoa học thuộc chi Micropsalliota tại các Vườn quốc gia (VQG), Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) và các hệ sinh thái tự nhiên của Việt Nam: VQG Kon Ka Kinh năm 2016 (Gia Lai), VQG Ba Vì năm 2011 (Hà Nội), VQG Bù Gia Mập năm 2016 (Bình Phước cũ - nay là Đồng Nai), VQG Tà Đùng năm 2022 (Lâm Đồng), Khu BTTN Kon Chư Răng năm 2016 (Gia Lai), Đầm Báy năm 2021 (Khánh Hòa).

1. M. alexandrovae D.D. Ivanova & O.V. Morozova, sp. nov.

Quả thể nấm có kích thước trung bình, mọc thành cụm, màu trắng hoặc be khi còn tươi, màu nâu khi khô, màu nâu vàng khi bị dập hoặc cắt. Mũ nấm đường kính (15–)16–20 (–22) mm, lồi, hình nón tù, có núm, màu trắng; bề mặt thô ráp với các vảy trắng nhỏ nổi lên. Phiến nấm rời, nhiều, rộng 1–2 mm, với 1–2 hàng phiến nhỏ, màu trắng hoặc kem, chuyển sang màu nâu khi già. Cuống nấm kích thước (55–)70–70–(–110) × 1–2 mm, hình trụ, màu trắng hoặc nâu xám; bề mặt phủ các vảy trắng nhỏ. Vòng nấm màu trắng, dính liền, dạng màng, đơn (Hình 1).

2. M. candida D.D. Ivanova, O.V. Morozova & T.H.G. Pham, sp. nov.

Quả thể có kích thước nhỏ, mọc thành từng nhóm, màu trắng khi còn tươi, chuyển sang màu nâu nhạt khi khô. Mũ nấm đường kính 4–8 mm, lồi khi còn non và trở nên dẹt-lồi khi già; bề mặt được bao phủ bởi các vảy nhỏ màu trắng dạng bông; mép có phần phụ với viền trắng dạng bông. Phiến nấm rời, kích thước 0,6–0,8 mm, phồng lên, với 1–2 hàng phiến nhỏ, màu kem, chuyển sang màu nâu khi già, mép nhạt hơn. Cuống nấm 5–10 × 0,5–0,7 mm, hình trụ, cùng màu với mũ nấm, được bao phủ bởi các sợi nhỏ mịn. Vòng màng, đơn, được bao phủ bởi các sợi lông nhỏ mịn (Hình 2).

3. M. casta D.D. Ivanova, O.V. Morozova & T.H.G. Pham, sp. nov.

Quả thể kích thước nhỏ, mọc đơn độc, chuyển sang màu đỏ cam khi bị dập hoặc tại các vết cắt. Mũ nấm đường kính 10–12 mm, phẳng, có núm nhỏ tù ở trung tâm, màu trắng, được bao phủ bởi các vảy sợi nhỏ màu nâu dần chuyển sang màu trắng về phía mép. Phiến nấm rời, nhiều, rộng 0,7–1 mm, hơi phình, xen kẽ với các phiến nhỏ. Cuống nấm 10–12 × 1–1,3 mm, hình trụ, rộng hơn về phía gốc, màu xám, được bao phủ bởi nhiều sợi nhỏ màu trắng mịn. Vòng màu hồng xám, rụng, dạng màng, có vân mờ (Hình 3).

4. M. cygnea D.D. Ivanova, O.V. Morozova & T.H.G. Pham, sp. nov.

Quả thể kích thước nhỏ, mọc thành từng nhóm nhỏ, màu trắng như tuyết khi còn tươi, khi khô bề mặt mũ nấm chuyển sang màu xám hồng, cuống nấm chuyển sang màu nâu. Mũ nấm đường kính (3–)4–5(–8) mm, ban đầu hình chuông lồi, dẹt, lõm khi già; bề mặt nhẵn, có vân ở mép khi già, hoàn toàn trắng. Phiến nấm lõm, rộng 0,5–0,8 mm, với 1–2 hàng phiến nhỏ, màu trắng. Cuống nấm 9–13 × 0,7–0,9 mm, hình trụ, màu trắng, phủ vảy trắng nhỏ. Không quan sát thấy vòng nấm (Hình 4).

5. M. dudkae D.D. Ivanova, Ageev & T.H.G. Pham, sp. nov.

Quả thể kích thước nhỏ, mọc đơn độc, màu hồng nhạt. Mũ nấm đường kính 5–9 mm, ban đầu hình chuông, sau đó lồi, phần còn sót lại của màng che phủ mép mũ màu trắng, bề mặt phủ vảy nhỏ, có lông màu hồng nhạt, dày đặc hơn về phía trung tâm, tạo thành một lớp lông nhỏ nứt ra khi thể quả phát triển. Phiến nấm rời, nhiều, rộng 0,8–1 mm, với 1–2 hàng phiến nhỏ, màu trắng. Cuống nấm 13–15 × 1 mm, hình trụ, bề mặt phủ vảy nhỏ, dạng sợi, màu trắng. Không quan sát thấy vòng nấm (Hình 5).

6. M. patouillardii D.D. Ivanova & V.A. Dudka, sp. nov.

Quả thể kích thước nhỏ, mọc thành từng nhóm, màu trắng đục. Mũ nấm đường kính 5–10 mm, ban đầu hình bán cầu và hình nón tù, sau đó lồi và dẹt; bề mặt khô, màu trắng, phủ những vảy nhỏ, thưa thớt dạng sợi màu nâu đỏ. Phiến nấm rời, phình ra, hơi cách xa nhau, màu hồng xám, có phiến nhỏ. Cuống nấm 5–13 × 0,3–0,5 mm, hình trụ, mỏng, màu trắng, ngả vàng khi già, phủ những vảy nhỏ, giống như trên mũ nấm. Không quan sát thấy vòng nấm (Hình 6).

7. M. poilanei D.D. Ivanova & O.V. Morozova, sp. nov.

Quả thể kích thước trung bình, mọc thành từng nhóm, màu trắng khi còn tươi, chuyển sang màu nâu sẫm khi khô. Mũ nấm đường kính 20–30 mm, lồi, dẹt-lồi, thường có núm, màu kem; toàn bộ bề mặt được bao phủ bởi các vảy nhỏ, dẹt, dạng sợi, màu nâu và nâu nhạt. Phiến nấm rời, nhiều, rộng 2–3 mm, với 1–2 hàng phiến nhỏ, ban đầu màu trắng, chuyển sang màu kem khi trưởng thành. Cuống nấm 40–60 × 1–2 mm, hình trụ, màu trắng hoặc kem, nhẵn hoặc có các sợi dọc không rõ ràng. Vòng nấm màu trắng, dính liền, dạng màng, có các sọc không rõ ràng (Hình 7).

8. M. pseudopulverulenta D.D. Ivanova & O.V. Morozova, sp. nov.

Quả thể kích thước nhỏ và màu trắng. Mũ nấm đường kính 2–5 mm, lồi. Phiến nấm rời, hơi cách xa nhau, rộng 0,4–0,6 mm, phình ra. Cuống nấm 8–14 × 0,6–0,8 mm, hình trụ. Vòng nấm màu trắng, dễ bay hơi (Hình 8).

9. M. nivea D.D. Ivanova, A.V. Alexandrova & T.H.G. Pham, sp. nov.

Quả thể kích thước nhỏ, mọc thành từng nhóm nhỏ, màu trắng khi còn tươi, chuyển sang màu cam khi bị dập hoặc tại các vết cắt. Mũ nấm đường kính 3–7 mm, ban đầu hình chuông và lồi, khi già trở nên lồi hơn với núm ở giữa, bề mặt nhẵn, khô, hơi mịn như nhung, hoàn toàn màu trắng. Phiến nấm rời, nhiều, rộng 0,5–0,9 mm, có 2 hàng phiến nhỏ, màu kem. Cuống nấm 16–23 × 0,8–1 mm, hình trụ, cùng màu với mũ nấm, nhẵn. Vòng nấm tồn tại trong thời gian ngắn, dạng màng (Hình 9).

Hình 1: M. alexandrovae: a quả thể ngoài tự nhiên, b đảm bào tử, c bào tử, d liệt bào, e liệt bào lá. a = 10 mm; b–d = 10 μm; e = 20 μm.  

Hình 2: M. candida: a quả thể ngoài tự nhiên, b bào tử, c đảm bào tử, d liệt bào, e liệt bào lá. a = 10 mm; b–d = 10 μm; e = 20 μm.

Hình 3: M. casta: a–b quả thể ngoài tự nhiên, c bào tử, d đảm bào tử, e liệt bào, f liệt bào vỏ. a–b = 10 mm; c–d = 10 μm; f = 50 μm.  

Hình 4: M. cygnea: a - b quả thể ngoài tự nhiên, c bào tử, d đảm bào tử, e liệt bào, f liệt bào vỏ. a–b = 10 mm; d–e = 10 μm; f = 20 μm.

Hình 5: M. dudkae: a - b quả thể ngoài tự nhiên, c bào tử, d đảm bào tử, e liệt bào, f liệt bào vỏ a - b = 5 mm; d = 10 μm; e = 20 μm. 

 Hình 6: M. patouillardii: a quả thể ngoài tự nhiên, b đảm bào tử, c bào tử, d - e liệt bào, f liệt bào vỏ. a = 10 mm; b–d = 10 μm; f = 20 μm.

Hình 7: M. poilanei: a quả thể ngoài tự nhiên, b bào tử, c đảm bào tử, d liệt bào, e liệt bào vỏ. a = 10 mm; b–d = 10 μm; e = 20 μm.     

Hình 8: M. pseudopulverulenta: a quả thể ngoài tự nhiên, b bào tử, c đảm bào tử, d liệt bào, e liệt bào vỏ. a = 10 mm; b–d = 10 μm; e = 20 μm.

Hình 9: M. nivea: a–b quả thể ngoài tự nhiên, c bào tử, d liệt bào, e đảm bào tử, f liệt bào vỏ. a–b = 10 mm; c–e = 10 μm; f = 20 μm.

Việc phát hiện và mô tả 9 loài mới cho khoa học đã nâng cao đáng kể hiểu biết về tính đa dạng của chi Micropsalliota tại Việt Nam, đồng thời cho thấy các hệ sinh thái rừng nhiệt đới của Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn nguồn tài nguyên nấm rất phong phú chưa được khám phá đầy đủ. Kết quả này góp phần bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học nấm cho khu vực Đông Nam Á và tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về phân loại, sinh thái và bảo tồn nguồn gen nấm.

Tài liệu tham khảo: Daria Ivanova, Dmitriy V. Ageev, Olga Morozova and Thi Ha Giang Pham. Micropsalliota (Agaricaceae, Agaricomycetes) of Vietnam: results of long-term research and description of new taxa. Mycological Progress 25, 45 (2026) https://doi.org/10.1007/s11557-026-02158-8.

Tin bài: TS. Phạm Thị Hà Giang (Viện Sinh thái Nhiệt đới)